Ngày 17/3, Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học: Định hướng nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 – 2030. Hội thảo có sự tham dự và trình bày của GS.TS. Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh.

Quang cảnh Hội thảo khoa học
Tại hội thảo, GS.TS. Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh, cho rằng TP Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, đối mặt với nhiều thách thức lớn về hạ tầng, môi trường và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu lý luận giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách và dự báo rủi ro.
Tuy nhiên, theo GS.TS. Võ Xuân Vinh, khoảng cách giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn chính sách hiện nay vẫn còn lớn. Nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị chưa được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Một số nghiên cứu mang tính khái quát cao, khó lượng hóa; đồng thời còn thiếu các cơ chế làm rõ cách thức đưa tri thức khoa học vào quá trình điều hành.
Thực tế cũng cho thấy quá trình chuyển hóa nghiên cứu đang gặp nhiều rào cản. Trước hết là sự “lệch pha” giữa cung và cầu: trong khi giới khoa học tập trung vào các vấn đề dài hạn hoặc mô hình học thuật phức tạp, thì cơ quan quản lý lại cần giải pháp ngắn hạn, khả thi. Bên cạnh đó, việc thiếu cơ chế chuyển đổi từ ngôn ngữ học thuật sang ngôn ngữ chính sách khiến các kết quả nghiên cứu khó được áp dụng. Ngoài ra, hạn chế trong cơ chế đánh giá và phản hồi thực chứng cũng làm giảm hiệu quả điều chỉnh chính sách.

GS.TS. Võ Xuân Vinh đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính đột phá
Cần những đơn “đặt hàng” trực tiếp cho các “bài toán” lớn
Trước những vấn đề trên, GS.TS. Võ Xuân Vinh đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, cần đổi mới cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn. Cơ quan quản lý cần trực tiếp đặt hàng các “bài toán lớn” của Thành phố trong giai đoạn 2026 – 2030 như mô hình chính quyền đô thị, tài chính xanh, thị trường carbon hay an sinh xã hội. Quá trình nghiên cứu phải gắn chặt từ khâu xây dựng đề cương đến nghiệm thu, với đầu ra là các đề xuất chính sách hoặc kịch bản hành động cụ thể.
Thứ hai, hình thành mạng lưới các tổ chức trung gian tư vấn chính sách (think tank) nhằm kết nối giữa nghiên cứu học thuật và hệ thống hành chính. Các viện nghiên cứu và trung tâm thuộc trường đại học cần được phát huy để chuẩn hóa kết quả nghiên cứu thành các “bản tóm tắt chính sách”, bao gồm kịch bản hành động, phân tích chi phí, lợi ích và dự báo rủi ro.
Thứ ba, áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các chính sách mới. Cơ chế này cho phép thí điểm các mô hình như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn hay chuyển đổi số trong phạm vi giới hạn, qua đó tạo dữ liệu thực chứng để hoàn thiện chính sách trước khi nhân rộng.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học và đổi mới cơ chế đánh giá nghiên cứu. Thành phố cần xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung, tích hợp công nghệ phân tích dữ liệu lớn nhằm phục vụ công tác điều hành. Đồng thời, tiêu chí đánh giá cần chuyển từ số lượng công bố sang mức độ tác động thực tiễn, đi kèm cơ chế đãi ngộ phù hợp cho các nhà khoa học.
Theo GS.TS. Võ Xuân Vinh, khoa học lý luận không chỉ dừng lại ở việc giải thích mà còn phải góp phần cải tạo thực tiễn. Việc xây dựng cơ chế chuyển hóa hiệu quả từ nghiên cứu đến hành động sẽ là yếu tố quan trọng giúp Thành phố Hồ Chí Minh phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Tin bài: Anh Thư – Viện Nghiên cứu Kinh Doanh